• Hotline: 098.271.1195 - Tel: (024) 322.424.98
  • skcd.baodientu@gmail.com

Nguồn gốc một số tên vị thuốc bắc

Vị thuốc đông y, nam y có tới hàng trăm hàng ngàn vị, mỗi vị có một cái tên, những cái tên này không phải tự nhiên mà có, thường nó đều gắn liền với một điển tích hoặc gắn liền với hình dáng/ tác dụng của nó.  

Căn cứ theo tính chất của vị thuốc mà đặt tên

Dựa theo tính chất và tác dụng của các vị thuốc để đặt tên cho dễ liên tưởng, dễ nhớ Phòng phong: Loại bỏ phong tà, trị các chứng do phong (gió mùa xuân) gây ra Liên tâm: Giúp thanh tâm hỏa Khổ qua: vị thuốc đắng nhìn giống dạ dày có tác dụng thanh vị hỏa Ích mẫu: Vị thuốc có ích cho người mẹ, người phụ nữ, thường dùng để điều hòa kinh nguyệt, phụ nữ sau sinh. Quyết minh tử: Chỉ loại hạt nhỏ bé nhưng uống vào có tác dụng làm sáng mắt Tục đoạn: Tục là nối, đoạn là đứt gẫy, chỉ vị thuốc có tác dụng nối liền được gân cốt đứt gẫy. Vị thuốc này thường dùng điều trị các bệnh cơ xương khớp rất hiệu quả

Căn cứ theo hình dạng mà đặt tên

Dựa theo hình dáng của vị thuốc, giống với loài vật, sự vật gì để dễ gợi nhớ Thái tử sâm: được đặt tên như vậy vì phần gốc của cây sâm nhìn giống một em bé mập mạp Ô đầu: Ô là quạ, gọi là ô đầu vì nhìn giống đầu con quạ Cẩu tích: Cẩu là chó, tích là lưng. Vị thuốc cẩu tích có nhiều lông vàng mềm mại nhìn giống trên lưng con chó Ngưu tất: ngưu là trâu, tất là đầu gối. Vị thuốc ngưu tất có đốt phình ra nhìn giống đầu gối con trâu Câu đằng: Đằng là dây leo, câu là lưỡi câu. Đặt tên như vậy vì cây thuốc mọc dạng thân leo và có các gai cong như lưỡi câu.

Căn cứ theo màu sắc mà đặt tên

Hoàng liên: Hoàng là vàng, liên là liên tiếp, chỉ vị thuốc có màu vàng và rễ mọc liên tiếp nhau.

nguon goc mot so ten vi thuoc bac
Hoàng là vàng, liên là liên tiếp, chỉ vị thuốc có màu vàng và rễ mọc liên tiếp nhau.

Như vị Hoàng bá và Hoàng đằng cùng nhóm cũng có màu vàng, được gọi là Tam hoàng Hồng hoa: nhiều người tưởng là cánh hoa hồng, thực ra đây là nhụy hoa nghệ tây, do có màu hồng da cam nhìn rất đẹp mắt nên được đặt tên như vậy Huyền sâm: Huyền là màu đen, ý chỉ vị sâm này có màu đen. Hay hắc táo cũng là táo đen Tử thảo: Tử là tím, thảo là cỏ chỉ vị thuốc có nguồn gốc là cây cỏ có màu tím

nguon goc mot so ten vi thuoc bac
Tử là tím, thảo là cỏ chỉ vị thuốc có nguồn gốc là cây cỏ có màu tím

Thanh đại: Thanh là xanh, đại là lớn, cũng có nghĩa là sắc lông mày. Thời xưa thường cạo lông mày và vẽ vị thuốc này vào vì vậy đặt tên là Thanh đại. Ngoài ra các vị thuốc có màu xanh như Thanh bì, Thanh Khao Bạch thược, bạch chỉ, Bạch cập: các vị thuốc có màu trắng, bạch là trắng

Căn cứ theo khí vị mà đặt tên

Xạ hương: do chữ xạ là loại thú giống loài hươu, hương là có mùi thơm. Đinh hương: Vị thuốc giống cái đinh mà lại có mùi thơm. Hồi hương: Vị thuốc có mùi thơm như hồi. Một số vị thuốc khác có mùi thơm đều đặt tên có chữ hương như Trầm hương, Mộc hương, Hương phụ… Cam thảo: Cam là ngọt, thảo là cỏ, vì vị thuốc có vị ngọt. Tế tân: Tế là sợi chỉ, tân là cay - vị thuốc là những rễ nhỏ như sợi chỉ, có vị cay. Khổ sâm: khổ là đắng, sâm là sâm. Vị thuốc thuộc loại sâm và có vị đắng.

Dựa theo cách sống mà đặt tên

Hạ khô thảo: hạ là chỉ mùa hạ, thảo là cỏ, chỉ loại cỏ cứ đến mùa hạ là khô héo Bán hạ: Vị thuốc có củ hái vào giữa mùa hè Nhẫn đông: còn có tên là kim ngân: Vì cây này có thể chịu đựng (nhẫn là chịu đựng) thời tiết khắc nghiệt mùa đông mà tiếp tục sinh trưởng Tang kí sinh: tang là cây dâu tằm, ký sinh là sống nhờ. Chỉ vị thuốc sống nhờ, là cây tầm gửi sống nhờ thân cây dâu Đông trùng hạ thảo: chỉ vị thuốc mùa đông là con sâu (côn trùng) mùa hè nấm mọc trên con sâu trên mặt đất (nhìn giống loài thực vật) có tác dụng bổ dưỡng rất tốt cho sức khỏe

Dựa theo bộ phận dùng để đặt tên

Có rất nhiều vị thuốc được đặt tên theo cách này, vì sẽ rất dễ nhớ

Tang diệp: Tang là cây dâu tằm, diệp là lá. Vì vị thuốc là lá dâu tằm Cúc hoa: nụ hoa cây cúc vàng Quế chi: Cành cây quế (chi là cành). Cát căn: Cát là sắn, căn là rễ. Vị thuốc là rễ cây sắn. Hạnh nhân, Đào nhân: nhân hạt của cây hạnh nhân và cây đào Tô tử: Tử là hạt, tô là tía tô. Vị thuốc là hạt cây tía tô Miết giáp: Mai con ba ba, vì miết là con ba ba, giáp là áo là mai. Hổ cốt: Xương hổ, Cốt là xương. Bạch mao căn: rễ cỏ tranh màu trắng

nguon goc mot so ten vi thuoc bac
Rễ cỏ tranh màu trắng

Kê nội kim: màng trong mề gà có màu vàng

Căn cứ theo điển tích phát hiện, người dùng vị thuốc đầu tiên

Đỗ trọng: Ngày xưa ở Tứ Xuyên có một lão nông tên gọi Đỗ Trọng, ông bị đau lưng kinh niên khi làm đồng trở về nhà thường hay có thói quen đứng dựa lưng vào một cái cây to trước cổng nhà để nghỉ ngơi. Lâu dần bệnh đau lưng của ông không chữa tự nhiên mà khỏi. Sau khi quan sát mọi người phát hiện hóa ra trong quá trình hằng ngày dựa lưng vào cái cây đó ông đã mài mòn đi vỏ ngoài của thân cây và để lộ ra thân cây màu như chỉ bạc, chính phần vỏ cây này đã phát huy tác dụng giúp ông khỏi bệnh. Sau này khi phát hiện tác dụng điều trị các bệnh phong thấp, tê ngứa, đau lưng dưới, đau đầu gối của loại dược liệu quan trọng này nên lấy tên ông để đặt tên cho thuốc.

Hà thủ ô: Vị thuốc này được một ông lão họ Hà phát hiện ra, ông bị tóc bạc trắng khi dùng thuốc này tóc đen nhánh trở lại. Hiện nay hà thủ ô được dùng nhiều với tác dụng bổ huyết, đen râu tóc

Sử quân tử: Tương truyền ngày xưa có một vị sứ quân họ Quách chuyên dùng vị thuốc dạng hạt này chữa bệnh cho trẻ em, vì vậy đặt tên là sử quân

Đặt tên thuốc theo nơi sản xuất, nơi thu hái

Ba đậu: Hạt nhìn giống hạt đậu được sản xuất ở Ba Thục Thường sơn: Vị thuốc lấy từ núi Thường Sơn A Giao: A là huyện Đông A, giao là keo. Vị thuốc này được chế từ da con lừa nấu với nước giếng ở huyện Đông A Bách thảo sương: muội đen cạo ở đáy nồi đun rơm rạ, các cây cỏ đốt cháy lâu ngày mà thành Hồ tiêu: vị thuốc lấy từ cây tiêu mọc ở đất nước Hồ

Ngoài ra còn nhiều cách đặt tên khác như đặt tên theo 12 con giáp, theo phiên âm, theo cách phát hiện…

BS. Thúy Hường (Thọ Xuân Đường)