Các thể bệnh u não thường gặp và phương pháp điều trị thích hợp

Theo Hội Ung thư não Mỹ, có khoảng 120 thể bệnh u não khác nhau và tất cả các dạng đều có thể gây tử vong. U não có thể gặp ở mọi lứa tuổi và việc điều trị đặc biệt khó khăn.
Hà Ly Hà Ly
U não là sự tăng trưởng bất thường của tế bào trong mô não. Cũng giống như các bệnh u khác, u não, xét về tính chất bệnh u não được chia làm 2 loại u não ác tính và lành tính (không phải ung thư). Tuy nhiên dù ác tính hay lành tính, u não đều gây tổn thương tế bào, đều có khả năng gây tử vong.

Các thể bệnh u não thường gặp


Nếu phân chia theo nguồn gốc bệnh, u não nguyên phát bao gồm: U tế bào thần kinh đệm, u màng não, u tuyến yên, u xơ thần kinh và các u khác. U não lành tính và u não ác tính nguyên phát không phổ biến nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Đối với Trẻ em, thường gặp một số loại như u nguyên bào tủy. Người lớn hay gặp u màng não lành tính và u thần kinh đệm được gọi là u nguyên bào thần kinh đệm đa dạng (GBM).

Cách phân biệt phổ biến là gọi tên dựa vào vị trí hình thành u não. Tùy vị trí khối u mà bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng phong phú:


U não thùy trán

 
Bệnh nhân thường thường có biểu hiện sa sút trí tuệ dần dần, cử chỉ bắt đầu chậm chạp không còn linh hoạt, tính cách cũng thay đổi, tự hình thành phản xạ cầm nắm bên đối diện. Nếu vị trí khối u ở phía sau thùy trán dưới bên trái, người bệnh có thể bị mất khả năng diễn đạt bằng ngôn từ, lời nói. Nếu khối u đè ép vào dây thần kinh khứu giác, người bệnh không còn khả năng ngửi thấy mùi hương. Nếu vị trí tổn thương ở cạnh trung tâm có thể gây ra những cơn động kinh cục bộ vận động.
 
Các thể bệnh u não thường gặp và phương pháp điều trị thích hợp
Hình ảnh chụp chiếu khối u não thùy trán bên phải.

U não thùy thái dương

 
Khi khối u hình thành ở vùng móc hải mã có thể kéo theo những cơn động kinh, ảo giác ở khứu giác vị giác. Người bệnh hay có các động tác như liếm môi hoặc cắn môi biểu hiện sự rối loạn thức tỉnh nhưng không bị mất ý thức thực sự. Người bệnh cũng có thể bị mất nhân cách, thay đổi cảm xúc, rối loạn hành vi, khi thì có cảm giác xa lạ khi lại thấy quen thuộc. Có bệnh nhân bị ảo giác, thấy mình nhỏ bé hoặc khổng lồ, ảo giác thính giác hay khuyết thị trường ở một phần tư thân trên. Nếu tổn thương bên trái có thể gây mất khả năng diễn đạt ngôn ngữ, còn tổn thương bên phải sẽ gây rối loạn nhận thức về âm nhạc và giai điệu.

U não thùy đỉnh

 
Người bệnh sẽ có triệu chứng rối loạn cảm giác bên đối diện, động kinh cảm giác, mất hay giảm cảm giác. Cụ thể hơn, người bệnh bị rối loạn xúc giác dãn tới giảm hoặc mất khả năng phân biệt đồ vật thông qua việc sờ nắm, không cảm nhận được trọng lượng của đồ vật cầm ở tay, khi sờ cũng không nhận biết được hình dáng kích thước, bề mặt đồ vật. Khi tổn thương lan rộng ở thùy đỉnh có thể tăng cảm giác đau thường đau tự phát bên đối diện.
 
Nếu tổn thương hồi nếp cong trái gây hội chứng Gerstmann như: Mất khả năng đọc, vẽ, không phân biệt được phải trái, không phân biệt ngón tay. Tổn thương hồi dưới viền trái gây mất khả năng dùng động tác giác quan. Bệnh nhân mất nhận thức bệnh tật như: phủ nhận hay không quan tâm với bệnh tật chính bản thân mình, khi bị tổn thương bán cầu phải người bệnh có thể mất khả năng tự mặc quần áo và các động tác cấu trúc tương tự.

U não thùy chẩm

 
Gây bán manh đồng danh bên đối diện hoặc khuyết thị trường từng phần. Nếu tổn thương ở bên trái hay cả hai bên, người bệnh mất khả năng phân biệt thị giác cả về đồ vật và màu sắc. Nếu tổn thương kích thích ở mỗi bên có thể gây ảo thị không định hình. Nếu tổn thương thùy chẩm cả hai bên, người bệnh có thể bị mù vỏ tức là không nhìn thấy gì nhưng đồng tử vẫn còn phản xạ với ánh sáng. Bệnh nhân không nhận biết được triệu chứng, mất cảm nhận màu sắc, không nhận được mặt người quen, mất khả năng liếc mắt về một điểm cụ thể nhưng vẫn có thể đưa mắt tự phát và phản xạ.
 
Các thể bệnh u não thường gặp và phương pháp điều trị thích hợp
Vị trí, thể tích và nhiệm vụ của 5 vùng thùy não.

U thân não và tiểu não

 
Làm liệt các dây thần kinh sọ, thất điều, mất khả năng phối hợp, rung giật nhãn cầu và các dấu hiệu bó tháp, rối loạn cảm giác các chi ở một hoặc hai bên. Nếu khối u khu trú ở thân não gây tăng áp lực nội sọ muộn, u tiểu não gây thất điều (mất khả năng giữ thăng bằng và phối hợp), u thùy giun và u ở bán cầu tiểu não gây thất điều động trạng cùng bên với biểu hiện mất phối hợp, giảm trương lực cơ (chi mềm, cánh tay duỗi ra nhiều và khớp gối đong đưa nhiều khi bị phản xạ bất ngờ).
 

Phương pháp điều trị u não


Trước hết, bác sĩ sẽ yêu cầu chụp cắt lớp sọ não hoặc cộng hưởng từ để phát hiện vị trí tổn thương cũng như hình dạng và kích thước của khối u. Kết hợp chụp mạch để thấy mạch máu bị kéo căng hoặc bị đẩy lệch khỏi vị trí bình thường, hình ảnh mạch trong u. Bên cạnh đó bệnh nhân cũng cần thực hiện điện não đồ để xác định rối loạn chức năng não khu trú hoặc lan tỏa do khối u.

Bác sĩ sẽ xem xét vị trí khối u và tình trạng của bệnh nhân để chọn phương pháp điều trị thích hợp. Thông thường, phương pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u được áp dụng với khối u ở ngoài trục như u màng não, u dây thần kinh số 8. Nếu khối u có ranh giới không rõ hoặc ở vị trí không thuận lợi (như ở thân não, ở vùng đáy não...) thì chỉ có thể cắt bỏ được một phần khối u hoặc chỉ sinh thiết để làm giải phẫu bệnh. Ví dụ như u nguyên bào mạch máu tiểu não thì rất khó phẫu thuật.

Phẫu thuật khẳng định chẩn đoán để giảm áp lực nội sọ, giảm triệu chứng. Nếu não úng thuỷ tắc, cần phẫu thuật dẫn lưu não thất rất có hiệu quả.
 
Các thể bệnh u não thường gặp và phương pháp điều trị thích hợp
Xạ trị u não.

Đối với bệnh nhân u tế bào thần kinh đệm ác tính, thường được điều trị bằng phóng xạ, kết hợp điều trị hoá chất trước mổ nhờ đó mà làm tăng tỷ lệ sống sót. Tùy thuộc loại u, vị trí và khả năng phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn u mà bác sĩ cân nhắc điều trị tia xạ cho các u não nguyên phát khác.
Phương pháp thứ hai là xạ trị giúp tiêu diệt các tế bào u còn sót lại sau phẫu thuật. Hiện nay, phương pháp này thường áp dụng được đối với trẻ từ 4 tuổi trở lên. Xạ phẫu bằng tia gamma (hay dao gamma) chỉ áp dụng được với u nhỏ có đường kính dưới 3cm và ở vị trí thuận lợi.

Phương pháp thứ 3 là truyền hóa chất có thể áp dụng với một số loại u nhạy cảm với hóa chất. Phương pháp này có thể điều trị sau phẫu thuật hoặc trước phẫu thuật (đối với khối u lớn, khó phẫu thuật...), trong và sau tia xạ.
 
U não - bệnh lý nguy hiểm. Video: VTC14
 
 
 
Hà Ly (t/h)
 
 
 

Tin nổi bật cùng chuyên mục