Dân số và phát triển: Thời cơ và thách thức cho dân số Việt Nam

Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh...

Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới của Hội nghị Trung ương 6, khóa XII nhấn mạnh: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”.

Theo dự báo, Dân số Việt Nam vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm lại (giai đoạn 2009-2019 bình quân hằng năm khoảng 1%, sau đó sẽ dưới 1%). Năm 2025, nước ta sẽ có 100 triệu dân và tiếp tục tăng chậm lên đến khoảng 107-108 triệu.

Dân số phát triển là điều kiện thuận lợi để tạo ra sự phát triển về kinh tế nhưng đồng thời cũng gặp phải nhiều thách thức, khó khăn về an ninh lương thực, năng lượng, quản lý di cư, áp lực tới hạ tầng cơ sở; gây ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường… 

Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội để nâng cao chất lượng dân số 

Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” với số người trong độ tuổi lao động hơn gấp đôi số người phụ thuộc. Điều này mang lại nhiều tđiều kiện thuận lợi về lao động nhưng ngược lại vấn đề việc làm, chất lượng dân số lại được đặt ra câu hỏi.

Cơ cấu dân số “vàng” sẽ chấm dứt vào khoảng đầu thập niên 40 của thế kỷ này. Vì vậy, nếu không khai thác nhanh và hiệu quả, cơ hội “vàng” sẽ bị bỏ qua. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với tình trạng già hóa với tốc độ vào nhanh nhất thế giới. Theo dự báo, Việt Nam, từ già hóa đến khi dân số già chỉ khoảng 27 năm (2011-2038). Trong khi đó, Pháp phải mất tới 115 năm, Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Mỹ 69 năm.

Cùng với đó, các vấn đề về an sinh xã hội ở Việt Nam chưa được quan tâm triệt để. Một thách thức nữa đặt ra là Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Số trẻ sơ sinh trai trên 100 trẻ sơ sinh gái cao (Năm 2018 là 115,1/100), ảnh hưởng lớn đến cấu trúc dân số trong tương lai.

Tỷ lệ phụ nữ mang thai biết trước giới tính thai nhi là 83% dẫn đến sự mất cân bằng giới tính khi sinh.  Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do ảnh hưởng của từ nhận thức của người dân, quan điểm trọng nam khinh nữ,  bất bình đẳng giới, lạm dụng kỹ thuật và thiết bị công nghệ ngày một phát triển, việc biết trước trước giới tính thai nhi trước khi sinh càng phổ biến. 

 Mặc dù dân số Việt Nam tăng cao nhưng chất lượng dân số tăng lên nhưng chưa cao. Việt Nam chưa bao giờ lọt vào tốp 100 nước có “Chỉ số phát triển con người” (HDI) cao nhất.

Để nâng cao chất lượng dân số, Tổng cục DS-KHHGĐ đã triển khai kế hoạch thực hiện các dự án nâng cao chất lượng dân số, như tư vấn tiền hôn nhân; sàng lọc trước sinh và sơ sinh… với mục tiêu chuyển từ DS- KHHGĐ sang Dân số và Phát triển, để giải quyết toàn diện, đồng bộ và căn bản hơn các vấn đề dân số.

 Tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XII Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá đây là vấn đề “rất lớn và khó” bởi chính sách dân số mới phải giải quyết tới 6 vấn đề dân số đang đặt ra gồm duy trì vững chắc mức sinh thay thế;  Đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; Tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng; Thích ứng với già hoá dân số; Nâng cao chất lượng dân số; Phân bố dân số hợp lý góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Tại kết luận số 119-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) ngày 4/1/2016 đã chỉ ra những điểm mới, quan trọng Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình.

Thứ nhất, chuyển trọng tâm chính sách dân số, từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, nhằm “giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số”, với các nội dung được Kết luận số 119-KL/TW chỉ rõ, như: Duy trì mức sinh thay thế; giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; tận dụng cơ cấu dân số vàng; thích ứng với quá trình già hóa dân số; điều chỉnh phân bố dân số hợp lý và nâng cao chất lượng dân số.

Như vậy, với mục tiêu giảm sinh thì nay, chính sách dân số mới với 6 nội dung, có phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với trước đây là chỉ tập trung vào nội dung kế hoạch hóa gia đình. Việc “chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển”, về bản chất là sự mở rộng chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình. Đây là một chủ trương mới và rất lớn của Đảng, là một bước ngoặt lớn trong chính sách dân số của Việt Nam, kể từ năm 1961 đến nay.

Thứ hai, chuyển trọng tâm sang dân số và phát triển, công tác kế hoạch hóa gia đình được thực hiện theo phương thức mới và hoàn toàn không phải là “từ bỏ kế hoạch hóa gia đình. Ví như vẫn phải “duy trì mức sinh thay thế” để trung bình số con của mỗi bà mẹ khoảng 2,0 - 2,1 con, thì không thể “từ bỏ kế hoạch hóa gia đình” được. Do đó, việc truyền thông, phương thức cung cấp phương tiện, dịch vụ cũng phải được tăng cường và phù hợp giữa các địa phương có mức sinh khác nhau như Kết luận số 119-KL/TW chỉ rõ: “Giảm sinh ở những tỉnh, thành phố có mức sinh còn cao; duy trì kết quả đã đạt được ở những tỉnh, thành phố đạt mức sinh thay thế; thực hiện mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp”. 

 Thứ ba, lồng ghép biến dân số vào kế hoạch hóa phát triển. Quy mô, cơ cấu, phân bố dân số đã và đang có xu hướng biến đổi nhanh. Để bảo đảm nguyên tắc con người là trung tâm của phát triển; để kế hoạch có tính thực tiễn, hiệu quả cao, phải tổ chức tốt công tác dự báo dân số và tính đến yếu tố dân số trong kế hoạch hóa phát triển. Trước hết là kế hoạch hóa lao động - việc làm tận dụng cơ cấu dân số vàng; kế hoạch hóa giáo dục và đào tạo; kế hoạch hóa y tế cần tính đến cơ cấu dân số theo tuổi biến đổi nhanh, di cư; chính sách an sinh xã hội cần tính đến già hóa dân số diễn ra nhanh.

Thứ tư, đẩy mạnh thông tin, giáo dục, truyền thông mà trọng tâm là “dân số và phát triển”. Điều này không đơn giản, vì những tư duy kế hoạch hóa gia đình trong hơn nửa thế kỷ qua, đã “ăn sâu” trong mỗi cặp vợ chồng, trong từng gia đình và trong toàn xã hội. Thành tựu đạt mức sinh thay thế một cách vững chắc; cơ cấu dân số thay đổi nhanh và đã hình thành cơ cấu dân số “vàng”; già hóa dân số; mất cân bằng giới tính khi sinh; di dân, đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ; tác động kinh tế - xã hội trong thời kỳ mức sinh thấp, gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân; các giải pháp nâng cao chất lượng dân số (yêu cầu tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh và sau sinh,...) cần được thông tin, tuyên truyền rộng rãi không những cho người dân mà còn cần cho cả cán bộ, nhất là các nhà hoạch định chính sách.

Tại kết luận số 119-KL/TW ngày 4/1/2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đưa ra: “Cấp ủy, chính quyền các cấp cần tiếp tục đưa công tác Dân số và Phát triển thành một nội dung trọng tâm trong công tác, hoạt động thường kỳ; đưa các mục tiêu, chỉ tiêu về Dân số và Phát triển vào nghị quyết, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội”.

Tình trạng dân số của nước ta ngày nay đã hoàn toàn khác tình trạng dân số cách đây hơn nửa thế kỷ. Vì vậy, đã đến lúc phải giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số, chứ không chỉ đơn thuần là KHHGĐ.

                                                                                                                           Nguyễn Loan

Tin nổi bật cùng chuyên mục