Các biện pháp tầm soát và phòng ngừa ung thư buồng trứng

Các bác sĩ khẳng định nếu được phát hiện và điều trị sớm, hơn 90% người bệnh ung thư buồng trứng có thể sống trên 5 năm. Do vậy, các biện pháp tầm soát và phòng ngừa ung thư buồng trứng là vô cùng quan trọng.
Hà Ly Hà Ly
Theo Cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ, ung thư buồng trứng là nguyên nhân gây tử vong thứ 5 trong các loại bệnh ung thư ở phụ nữ, sau ung thư phổi, phế quản, vú, đại trực tràng và ung thư tuyến tụy. Đáng nói chỉ có khoảng 20% trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Nguyên nhân khiến hầu hết các trường hợp đều chỉ phát hiện ở giai đoạn muộn là do bệnh không có triệu chứng rõ ràng và người dân chưa có ý thức thăm khám và tầm soát ung thư định kỳ.
 

Các yếu tố làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng


Ung thư buồng trứng có thể xảy ra với bất kỳ ai đặc biệt ở phụ nữ sinh con muộn, không sinh con hoặc mất khả năng sinh con và không cho con bú. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra phụ nữ đã sinh con có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng thấp hơn người chưa từng sinh con. Nguy cơ mắc bệnh giảm dần theo mỗi lần mang thai, có nghĩa phụ nữ sinh nhiều con ít có khả năng mắc bệnh so với phụ nữ chỉ sinh một con.
 
Các biện pháp tầm soát và phòng ngừa ung thư buồng trứng
Phụ nữ sinh con và có cho con bú ít có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng hơn

Bên cạnh việc mang thai và sinh con, việc cho con bú cũng ảnh hưởng tới sức khỏe người mẹ. Các bác sĩ cho rằng phụ nữ cho con bú ít có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng hơn người không cho con bú hoặc có cho bú trong thời gian ngắn (ít hơn 7 tháng). Sau khi sinh con, các biện pháp tránh thai cũng ảnh hưởng tới khả năng mắc các bệnh phụ khoa của người mẹ. Một số nghiên cứu đã cho thấy, phụ nữ dùng thuốc tránh thai trong ít nhất 5 năm giảm 50% nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Nguyên nhân do thuốc tránh thai ngăn cản sự rụng trứng, nhiều nghiên cứu cho rằng trứng rụng ít hơn có thể bảo vệ buồng trứng khỏi tế bào ung thư. Tuy nhiên, chị em cần cân nhắc bởi sử dụng thuốc tránh thai đặc biệt trong thời gian dài tiềm ẩn nhiều rủi ro khác.
 
Các biện pháp tầm soát và phòng ngừa ung thư buồng trứng
Sử dụng thuốc tránh thai được cho là gián tiếp giảm thiểu nguy cơ ung thư buồng trứng

Một biện pháp tránh thai khác là thắt ống dẫn trứng tương tự như cắt bỏ buồng trứng cũng được cho làm giảm nguy cơ mắc ung thư. Thậm chí, trong một số trường hợp như người có tiền sử mắc bệnh ở buồng trứng, phụ nữ trung niên không còn nhu cầu sinh con hay người gia đình có tiền sử mắc bệnh... được bác sĩ còn khuyến cáo chủ động cắt bỏ buồng trứng để tránh mắc bệnh. Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng, ăn kiêng giảm béo cũng ảnh hưởng tới nguy cơ mắc bệnh phụ khoa. Phụ nữ béo phì có nguy cơ cao mắc ung thư buồng trứng, ngược lại người có chế độ ăn ít chất béo, giàu chất xơ, rau xanh ít có nguy cơ mắc bệnh hơn.

Tầm soát ung thư buồng trứng với người có nguy cơ cao


Để phát hiện sớm các triệu chứng ung thư buồng trứng, cách duy nhất là khám sức khỏe và tầm soát ung thư định kỳ. Bác sĩ khuyến cáo chị em nên khám chuyên phụ khoa để được đánh giá về hình dạng, kích thước buồng trứng tử cung. Tuy nhiên phần lớn các bướu buồng trứng có kích thước nhỏ rất khó phát hiện nên việc thăm khám phải kết hợp nhiều biện pháp và được thực hiện bởi chuyên gia đầu ngành và trang thiết bị hiện đại.

Khi nhận thấy có dấu hiệu bất thường, chị em cần được thăm khám càng sớm càng tốt, không nên để kéo dài quá 2 tuần. Ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm gần như không có triệu chứng. Đến giai đoạn muộn bệnh chủ yếu gây triệu chứng ở các cơ quan khác như: táo bón, đầy bụng, bụng to bất thường, chán ăn, sụt cân, tiểu nhiều... Bởi các triệu chứng không điển hình nên rất dễ bị bỏ qua hoặc chẩn đoán nhầm.
 
Các biện pháp tầm soát và phòng ngừa ung thư buồng trứng

Hiện nay có nhiều phương pháp tầm soát ung thư buồng trứng, mỗi phương pháp cho hiệu quả khác nhau. Hai loại xét nghiệm được sử dụng để tầm soát ung thư buồng trứng phổ biến là siêu âm qua ngả âm đạo và định lượng CA-125 trong máu. Siêu âm qua ngả âm đạo là kỹ thuật sử dụng sóng siêu âm phát ra từ đầu dò đặt trong âm đạo để khảo sát tử cung, vòi trứng và buồng trứng. Kỹ thuật này có hạn chế là không thể không thể phân biệt đây là bướu lành hay bướu ác nên thường phát hiện nhiều trường hợp bướu lành hơn ung thư.
 
Phương pháp định lượng CA-125 trong máu là tìm kiếm loại protein trong máu. Ở bệnh nhân ung thư buồng trứng, nồng độ CA-125 trong máu thường cao. Việc xét nghiệm định lượng CA-125 trong máu được dùng để phục vụ việc theo dõi suốt quá trình điều trị. Bởi CA-125 trong máu thường giảm sau điều trị và có thể tăng trở lại khi bệnh tái phát. Tuy nhiên, nồng độ CA-125 có thể tăng khi mắc một số bệnh lý khác như lạc nội mạc tử cung, bướu sợi tử cung, xơ gan, viêm nhiễm vùng chậu hay ung thư nội mạc tử cung, vú, phổi và tụy... Nhiều trường hợp phụ nữ không có bướu ở buồng trứng nhưng CA-125 trong máu vẫn tăng. Mặt khác, không phải tất cả bệnh nhân ung thư buồng trứng đều có nồng độ CA-125 tăng cao. Do vậy, hiện nay các bác sĩ chỉ cân nhắc thực hiện hai phương pháp này để tầm soát ung thư buồng trứng ở những người có nguy cơ cao như người mà gia đình có tiền sử mắc bệnh, người bị đột biến gen BRCA1-2 và hội chứng Lynch.
 
4 dấu hiệu ung thư buồng trứng. Video: Dân trí
 
 
Hà Ly (t/h)
 

Tin nổi bật cùng chuyên mục