Việt Nam phấn đấu loại trừ viêm gan B từ mẹ sang con

Việt Nam là một trong các nước thuộc khu vực có tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B cao nhất thế giới, từ 10 - 20%. Tỷ lệ lưu hành virus viêm gan B trên phụ nữ mang thai cũng rất cao từ 9,5 - 13%.

Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo Triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về loại trừ lây truyền HIV, viêm gan B và giang mai từ mẹ sang con do Bộ Y tế tổ chức ngày 8-1.

Ông Nguyễn Đức Vinh, Vụ trưởng Vụ Sức khoẻ Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế cho biết, năm 2015, Việt Nam có khoảng 8,7 triệu trường hợp viêm gan virus B mạn tính, 23.500 trường hợp tử vong liên quan đến gan, 22.700 trường hợp ung thư gan và 31.700 trường hợp xơ gan.

Ông Nguyễn Đức Vinh, Vụ trưởng Vụ Sức khoẻ Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế phát biểu tại hội thảo.

Trong ba con đường lây truyền virus viêm gan B, tỷ lệ nhiễm do lây truyền dọc từ mẹ sang con chiếm phần lớn.

Phụ nữ mang thai nhiễm viêm gan virus B có thể truyền cho con khi mang thai, khi chuyển dạ và một thời gian ngắn sau đẻ. Trong giai đoạn ba tháng đầu của thai kỳ, tỷ lệ lây nhiễm từ mẹ sang con là 1%, nếu mẹ bị bệnh ở ba tháng giữa của thai kỳ thì tỷ lệ lây nhiễm sang con là 10% và sẽ tăng cao tỷ lệ lây nhiễm sang con tới 60 - 70% nếu mẹ bị mắc bệnh ở ba tháng cuối của thai kỳ. Ước tính, khoảng 5-10% nguy cơ nhiễm viêm gan B xảy ra cho thai nhi trong tử cung do virus xâm nhập qua gai rau bị tổn thương.

“Trên thực tế vẫn có khoảng 10 - 20% trẻ sinh ra từ mẹ có virus viêm gan B dương tính vẫn bị nhiễm bệnh viêm gan B sau khi sinh, mặc dù đã được tiêm phòng vaccine viêm gan B. Lây truyền viêm gan B trong quá trình chuyển dạ và khi đẻ là nguyên nhân phổ biến trong cơ chế lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con. Trong số những trẻ nhiễm viêm gan B do lây truyền từ mẹ sang, có tới 90% trẻ có nguy cơ chuyển thành viêm gan mạn tính”, ông Vinh cho hay.

Hiện nay, hoạt động dự phòng lây truyền virus viêm gan B từ mẹ sang con hiện gặp nhiều thách thức. Tỷ lệ bao phủ liều vaccine viêm gan B sau sinh chưa cao, thậm chí giảm xuống trong những năm qua do trong quá trình tiêm đã gây ra sự dè dặt trong tiêm phòng viêm gan B cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm virus viêm gan B.

Hoạt động điều trị thuốc kháng virus cho phụ nữ có tải lượng virus viêm gan B chưa có hướng dẫn về xét nghiệm và điều trị tại các cơ sở y tế. Xét nghiệm virus viêm gan B cho phụ nữ trước sinh đã được triển khai tại nhiều bệnh viện tuyến trung ương và tỉnh. Tuy nhiên, việc xét nghiệm sàng lọc virus viêm gan B cho phụ nữ mang thai chưa được coi là xét nghiệm thường quy trong gói chăm sóc trước sinh. Bộ Y tế cũng chưa có quy định về việc kiểm soát nhiễm virus viêm gan B cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là phụ nữ mang thai.

Để phòng chống căn bệnh nguy hiểm này, Bộ Y tế đã ban hành kế hoạch hành động quốc gia tiến tới loại trừ lây truyền HIV, viêm gan B và giang mai từ mẹ sang con giai đoạn 2018-2030.

Ông Nguyễn Đức Vinh cho biết, ngành y tế sẽ áp dụng cách tiếp cận chăm sóc liên tục và tiếp cận bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, trong đó xác định gói can thiệp thiết yếu hiệu quả, bảo đảm cho mọi đối tượng có thể tiếp cận được khi có nhu cầu; bảo đảm tính bền vững của chương trình can thiệp loại trừ viêm gan B lây truyền từ mẹ sang con trên cơ sở đẩy mạnh phối hợp, lồng ghép và cung cấp theo gói dịch vụ chăm sóc Sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

Đồng thời, ngành y tế sẽ tăng cường năng lực của hệ thống y tế sẵn có và chất lượng của mạng lưới cung cấp dịch vụ đi đôi với tăng cường mức độ sử dụng dịch vụ của người dân thông qua truyền thông, giáo dục sức khỏe, hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ dự phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con được liên tục và thuận tiện; ổn định và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ y tế làm công tác sức khỏe sinh sản các cấp về can thiệp dự phòng lây truyền viêm gan B…

Để giảm nguy cơ lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con, ông Nguyễn Đức Vinh khuyến cáo tất cả phụ nữ trong lần khám đầu tiên trước khi chuẩn bị mang thai đều nên làm xét nghiệm xác định virus viêm gan B và xét nghiệm lại trong thai kỳ nếu cần thiết. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ nhiễm viêm gan B có thể được bảo vệ hiệu quả bằng cách gây miễn dịch thụ động và chủ động (tỷ lệ bảo vệ trên 90%).

Tin nổi bật cùng chuyên mục